Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

90 năm đảng búa liềm

90 NĂM ĐẢNG BÚA LIỀM


PHẠM ĐÌNH TRỌNG



Đảng búa liềm Việt Nam chọn ngày 3.2.1930 là ngày khai sinh tổ chức của họ. Từ đó, sau khi cướp được chính quyền và cướp được một vùng lãnh thổ để vỗ ngực xưng hùng xưng bá và ngạo ngược cưỡi đầu cưỡi cổ dân, hàng năm, cứ đến ngày sinh của đảng búa liềm, cả hệ thống truyền thông dối trá, lừa bịp của nhà nước búa liềm lại chạy hết công suất kể công lao tưởng tượng của họ. Nhờ có đảng, đất nước mới có độc lập, người dân mới có được cuộc sống như ngày hôm nay.

Ngoài những tội ác man rợ với người dân, đảng búa liềm khát máu đã để lại những trang đau thương đẫm máu nhất trong lịch sử Việt Nam. Ngoài những tội tày trời với quá khứ dựng nước và giữ nước vẻ vang của cha ông, đảng búa liềm ô nhục đã xẻ hàng ngàn cây số vuông đất biên cương, hàng vạn hải lí biển dâng cho vương triều búa liềm Đại Hán. Đảng búa liềm Việt Nam còn tội ác thăm thẳm không thể định lượng, không thể cân đo bằng đại lượng vật chất mà chỉ có thể tính bằng đại lượng vô giá là thời gian, bỏ phí thời gian vàng phát triển, giết hại, đọa đày, uổng phí những thế hệ vàng người Việt.

1. TRĂM NĂM PHÁP THUỘC BIÊN CƯƠNG VIỆT NAM MỞ RỘNG VÀ BỀN VỮNG, VĂN HÓA VIỆT NAM ĐƯỢC BẢO TỒN TRỌN VẸN VÀ PHÁT TRIỂN, QUYỀN CON NGƯỜI ĐƯỢC BẢO ĐẢM. THỜI VƯƠNG TRIỀU BÚA LIỀM, ĐẤT ĐAI CỦA CHA ÔNG BỊ MẤT, QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI DÂN KHÔNG CÒN.
Là thuộc địa của Pháp, nhưng nước Pháp xâm lược vẫn coi Việt Nam là một dân tộc có bản sắc văn hóa độc đáo riêng và rất coi trọng bảo tồn nền văn hóa đặc sắc Việt Nam. Cùng với việc mở đường sắt, đường nhựa, xây nhà máy phát điện, xây nhà hát, Pháp còn xây những tòa lâu đài ánh sáng làm bảo tàng, thư viện lưu giữ nền văn hóa đặc sắc Việt Nam. Nước Pháp còn có những nhà khoa học lớn giành cả cuộc đời khoa học cho việc sưu tầm, ghi chép, lưu trữ bản sắc văn hóa Việt Nam như nhà dân tộc học Georges Condominas (1921 – 2011).

Nước Pháp cũng rất có trách nhiệm trong việc bảo toàn lãnh thổ Việt Nam đã được xác định trong lịch sử. Năm 1887, Pháp đã kí công ước với nhà Thanh xác định biên giới, dựng cột mốc phân chia rạch ròi giới hạn quốc gia hai nước Việt Nam – Trung Hoa. Tám năm sau, năm 1895, Pháp lại đòi nhà Thanh kí công ước biên giới Việt – Trung lần thứ hai. Với lí lẽ của lịch sử Việt Nam, với tầm văn hóa của nhà nước đang quản lí đất nước Việt Nam, người Pháp đàm phán và kí công ước biên giới 1895 đã giành lại cho Việt Nam một dải đất lưu lạc đang thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Hoa quản lý, nay là đất gồm các huyện Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tam Đường thuộc tỉnh Lai Châu, các huyện Mường Chà, Mường Nhé, Tủa Chùa thuộc tỉnh Điện Biên.

Một điều cần khắc ghi là: Trên bản đồ cả hai công ước 1887 và 1895, cột mốc xác định biên giới Việt – Trung đều cách xa thác Bản Giốc về phía Bắc 12 km.

Kế tục triều nhà Nguyễn, người Pháp quản lí giữ gìn nguyên vẹn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dựng bia chủ quyền mang tên nước Việt Nam, đặt trạm khí tượng ở Hoàng Sa và Trường Sa. Pháp cũng xây dựng lại cổng nước bề thế, uy nghiêm trấn giữ phía Bắc ở Lạng Sơn, nơi diễn ra cuộc chia tay lịch sử của cha con Nguyễn Trãi. Cha bị giặc Minh bắt đưa sang đất giặc. Con dừng lại ở vạch giới hạn biên ải đau đớn nhìn theo cha rồi mang mối thù giặc trở về làm lên trang lịch sử chói lọi, cùng Lê Lợi dấy binh đánh tan giặc Minh xâm lược.

Nay vương triều búa liềm Hà Nội đã cắt nửa thác Bản Giốc ở Cao Bằng và toàn bộ cổng nước ở Lạng Sơn dâng cho vương triều búa liềm Bắc Kinh. Thừa hận thù giai cấp, thiếu vắng lòng yêu nước, không đủ tầm quản lí đất nước và nhân cách thấp hèn của vương triều búa liềm Hà Nội đã giúp cho vương triều búa liềm Bắc Kinh dễ dàng thôn tính toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần trọng yếu trong quần đảo Trường Sa.

Là một nền văn hóa lớn, nước Pháp đã đi đầu trong triết học Ánh Sáng với những nhà tư tưởng lớn Montesquieu (1689 – 1755), Voltaire (1694 – 1778), Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778) đã mở ra một thời kì sáng lạn cho loài người: Xác nhận sự có mặt của mỗi cá thể con người. Tách cá nhận khỏi bầy đàn. Khẳng định quyền con người: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Nước Pháp cũng đi đầu trong cách mạng công nghiệp khởi đầu từ cách mạng tư sản dân quyền 1789.

Thuộc địa Việt Nam bị thực dân Pháp cai trị vô cùng hà khắc nhưng trí tuệ Việt Nam tiếp nhận nền văn hóa Pháp đã tạo ra một đội ngũ trí thức lớn và đông đảo chưa từng có. Không có văn hóa Pháp, không có lớp học giả sừng sững trong thời gian như Trương Vĩnh Ký, Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường . . . và lớp văn nghệ sĩ để lại dấu ấn vàng son trong lịch sử văn hóa Việt Nam như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Vũ Hoàng Chương, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Nguyên Hồng, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Phạm Duy, . . .

Lòng yêu nước và ý chí tự cường Việt Nam gặp cách mạng công nghiệp Pháp đã khích lệ những ý chí chấn hưng đất nước Việt Nam, tạo ra những nhà tư sản dân tộc và những doanh nhân công nghiệp, mở ra nền kinh tế công nghiệp Việt Nam với những nhà máy tư nhân, hãng buôn tư nhân, hàng trăm tờ báo và hàng chục nhà xuất bản tư nhân. Hãng buôn Bạch Thái Bưởi. Hãng sơn Nguyễn Sơn Hà. Các nhà xuất bản Đông Kinh Ấn Quán, Mai Lĩnh. Đời Nay. Tân Dân, Hàn Thuyên, Lê Cường . . . Những nhà tư sản dân tộc càng giầu tiền bạc, càng giầu lòng yêu nước như Đỗ Đình Thiện, Trịnh Văn Bô, Ngô Tử Hạ, Nguyễn Thị Năm . . .

Đông Pháp Thời Báo, Đuốc Nhà Nam, Phụ Nữ Tân Văn, Gia Định Báo, Nhựt Trình Nam Kì, Lục Tỉnh Tân Văn, Thông Thoại Khóa Trình, Đại Nam Đồng Văn, Đại Việt Tân Báo, Nông Cổ Mín Đàm, Đăng Cổ Tùng Báo, Nam Kỳ Tuần Báo, Đông Dương Tạp Chí, Tiếng Chuông, Buổi Sáng, Ánh Sáng, Sài Gòn Mới, Công Luận, Nam Phong, Thần Chung, Ngày Nay, Khai Hóa Nhật Báo, Việt Nam Hồn Báo, Tinh Hoa, Hà Nội Báo, Thời Mới,. . . Không thể liệt kê xuể hàng trăm tờ báo giấy của tư nhân ra hàng ngày, hàng tuần ở các đô thị Việt Nam thời Pháp thuộc. Những tờ báo, tạp chí tư nhân phát hành rộng rãi trên cả nước mang ánh sáng văn minh công nghiệp đến với người dân vừa rời đồng ruộng ra thị trấn, thành phố, mang tinh thần tự do ngôn luận của cách mạng tư sản Pháp vào đời sống xã hội Việt Nam. .

Sự có mặt hàng trăm tờ báo tư nhân trong đời sống xã hội và những cuộc biểu tình hàng chục, hàng trăm ngàn người rầm rộ diễn ra trên cả nước suốt thời Pháp thuộc còn xác nhận một điều hiển nhiên của lịch sử và là sự đối chứng với xã hội Việt Nam thời búa liềm mông muội. Dù là kẻ xâm lược nhưng nước Pháp của văn minh công nghiệp, của cách mạng tư sản dân quyền cai trị Việt Nam đã bảo đảm quyền con người của người dân Việt Nam bị trị với những quyền cơ bản: quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tự do biểu tình. Trong khi nhà nước cộng sản Việt Nam cai trị người Việt Nam, những quyền con người cơ bản đó chỉ có trong giấc mơ của người dân. Vài chục người chỉ có tờ giấy, mảnh vải băng rôn trong tay tập hợp ôn hòa bộc lộ ý nguyện bảo vệ tổ quốc, bảo vệ môi trường sống, lập tức bị vu là thế lực thù địch, bị đánh đổ máu, gãy chân, chấn thương sọ não và phải nhận những bản án hàng chục năm ngục tù.

2. CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP ĐƯA TƯ BẢN HOANG DÃ ĐẾN TƯ BẢN NHÂN VĂN, TẤT YẾU CŨNG ĐƯA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI TỪ NÔ LỆ SANG ĐỘC LẬP
Con đường tất yếu của xã hội công nghiệp là đi từ tư bản hoang dã đến tư bản nhân văn. Công nghiệp tạo ra nhà tư sản. Nhà tư sản tích lũy tư bản ban đầu bằng bóc lột người lao động trong nước và đi xâm lược mở thị trường, vơ vét nguyên liệu ở thuộc địa. Đó là nanh vuốt của con thú tư bản hoang dã.

Khoa học kĩ thuật khai sinh ra công nghiệp và công nghiệp lại thúc đẩy khoa học kĩ thuật phát triển. Tác động qua lại đó dẫn đến sản xuất công nghiệp ngày càng tinh xảo đến kì diệu vừa giải phóng con người khỏi dây chuyền công nghệ, vừa cho năng suất lao động rất cao, lợi nhuận rất lớn. Những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật nối tiếp đã đưa loài người bước những bước dài tới xã hội giầu có, văn minh, lương thiện.

Lợi nhuận tư bản có được không phải từ bóc lột sức lao động nữa mà từ khoa học kĩ thuật và từ tài năng con người. Với khoa học kĩ thuật, cả thế giới đã là một thị trường rộng mở và với tài năng con người, mọi người đều có thể trở thành ông chủ, bà chủ, trở thành tư bản và là những tư bản nhân văn với hai bàn tay sạch và tâm hồn rộng lớn bao dung với số phận cả loài người và yêu thương, chia sẻ với thân phận từng con người như Bill Gates, Warren Buffett, Jeff Bezos, George Soros, Michael Bloomberg, Paul Allen, James Simons, Philip Anschutz, Dustin Moskovitz . . ., những ông chủ tư bản đã dốc túi ra hết tỉ đô la này đến tỉ đô la khác làm từ thiện khắp thế giới.

Tính người được đánh thức trong xã hội công nghiệp văn minh. Sự bóc lột, ngược đãi với con người, với thiên nhiên trở thành tội ác trong luật pháp các nước văn minh và bị hiến chương Liên Hợp Quốc lên án, loại bỏ. Quyền con người của mỗi cá thể và quyền tự quyết của mỗi dân tộc được nhìn nhận. Từ giữa thế kỉ 20, thời tư bản nhân văn đã thực sự đến với xã hội loài người.

Ngày 1.4.1960, Liên Hợp Quốc ra Nghị quyết 1514 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đòi hỏi các nước có thuộc địa phải trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa. Nghị quyết xác định: “Sự nô dịch các dân tộc xuất phát từ ách cai trị, sự đô hộ và bóc lột của ngoại bang cấu thành sự phủ nhận các quyền cơ bản con người là trái với Hiến chương Liên Hợp Quốc và là một sự cản trở đối với việc thúc đẩy hòa bình và hợp tác trên thế giới. Tất cả các dân tộc có quyền tự quyết xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa . . . Tất cả các quốc gia phải tuân thủ một cách nghiêm túc và chặt chẽ các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới và Tuyên bố này trên cơ sở bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và tôn trọng chủ quyền của tất cả các dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ”.

Bước vào xã hội công nghiệp, loài người bước vào thời phát triển rực rỡ, nhanh chóng đi đến giầu có, văn minh, đáp ứng mọi nhu cầu của con người, nâng con người lên tầm vóc khổng lồ làm chủ cả vũ trụ. Nhưng xã hội Việt Nam vừa bước vào công nghiệp, vừa bước vào văn minh đô thị thì đảng búa liềm Việt Nam ra đời đã dìm Việt Nam vào biển lửa bạo lực cách mạng và chiến tranh, dìm Việt Nam vào biển máu hận thù đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, tách Việt Nam khỏi dòng chảy cuồn cuộn của thế giới trong cuộc sống công nghiệp đi đến ánh sáng văn minh, tròng ách nô lệ cộng sản vào thân phận người dân Việt Nam. Một thảm họa khủng khiếp và oan nghiệt đã giáng xuống đầu đàn cháu chắt lam lũ và đau khổ của các vua Hùng hiển hách.

3. CHẶN ĐỨNG BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI VIỆT NAM ĐANG TRONG DÒNG CHẢY ÀO ẠT CỦA LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI ĐI TỚI XÃ HỘI CÔNG NGHIỆP VĂN MINH, ĐẢNG BÚA LIỀM ĐƯA XÃ HỘI VIỆT NAM VỀ THỜI PHONG KIẾN TRUNG CỔ
Đầu thế kỉ trước, một nhịp sống công nghiệp, một nền văn minh đô thị đang hình thành ở xứ sở của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Là thuộc địa của nước Pháp công nghiệp, Việt Nam đang bước những bước đi đầu tiên vào xã hội công nghiệp, vào văn minh đô thị thời tư bản hoang dã. Theo tiến trình lịch sử, đã bước vào tư bản hoang dã tất sẽ đi đến tư bản nhân văn, đi đến quyền dân tộc tự quyết theo Nghị quyết 1514 ngày 1.6.1960 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc, nước xâm chiếm thuộc địa phải trao trả độc lập cho nước thuộc địa. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cũng là quá trình tất yếu khai dân trí, chấn dân khí.

Nhưng ngọn lửa cách mạng vô sản do đảng búa liềm thổi bùng lên khởi đầu bằng cuộc bạo loạn của nông dân Xô Viết Nghệ Tĩnh “Trí Phú Địa Hào đào tận gốc, trốc tận rễ” đã dìm giống nòi Việt Nam vào biển máu hận thù giai cấp. Từ thảm họa Xô việt Nghệ Tĩnh 12.09.1930 đến thảm họa Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội 09.01.2020, suốt 90 năm ròng cai trị bằng bạo lực, bằng chia rẽ, hận thù, chưa khi nào đảng búa liềm ngừng kích động người Việt giết người Việt.

Giương ngọn cờ giải phóng dân tộc lừa dối để tập hợp người dân. Dùng sức mạnh nhân dân giành quyền thống trị. Nắm được quyền thống trị xã hội, đảng búa liềm hiện rõ chân tướng là một vương triều phong kiến. Vua phong kiến chỉ truyền ngôi cho con cháu trong dòng dõi nhà vua. Đảng búa liềm chỉ chuyển giao quyền lực cướp được của dân cho người trong đảng để đảng đời đời kiếp kiếp nắm quyền cai trị.

Ở các nước dân chủ, mỗi nhiệm kì chuyển giao quyền lực là một dịp người tài trong dân được phát hiện và người dân lại được sử dụng quyền lực của mình chọn người tài trong dân quản trị đất nước. Với nhà nước búa liềm, quyền lực của dân là quyền ứng cử và bầu cử vào bộ máy nhà nước đã bị đảng búa liềm cướp mất, Chỉ người trong đảng mới được đảng búa liềm qui hoạch, phân chia cho chiếc ghế quyền lực. Những trò qui hoạch cán bộ của đảng búa liềm là sự ngang nhiên cướp đoạt quyền dân, là sự khinh bỉ miệt thị, xỉ nhục thậm tệ với người dân.

Trong xu thế thời đại dân chủ, nhà nước búa liềm phải ghi vào hiến pháp quyền tự do bầu cử, ứng cử, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền lập hội, quyền biểu tình nhưng thực tế người dân Việt Nam hoàn toàn không có những quyền đó. Không còn những quyền con người cơ bản, không còn cá nhân, người dân chỉ là “quần chúng cách mạng”, là bầy đàn như thời trung cổ. Phủ nhận những quyền con người cơ bản của người dân, đảng búa liềm đã đi ngược tiến trình lịch sử, chống lại Hiến chương Liên Hợp Quốc, chống lại Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới.

Lí tưởng xuất phát của học thuyết Mác xóa bỏ bất công, bóc lột, giải phóng con người là lí tưởng nhân văn. Nhưng những kẻ thực hiện học thuyết Mác bằng chuyên chính vô sản dùng bạo lực nhà nước tước đoạt quyền con người của người dân, người dân không còn cá nhân chỉ là bầy đàn nô lệ thời hồng hoang. Chủ nghĩa tư bản đi từ tư bản hoang dã đến tư bản nhân văn thì chủ nghĩa cộng sản đã đi con đường ngược lại, từ lí tưởng cộng sản nhân văn đến xã hội cộng sản hoang dã. Đưa dân tộc Việt Nam đi con đường ngược với tiến trình lịch sử loài người, đảng búa liềm đã kéo xã hội Việt Nam thụt lùi về thời phong kiến. Không chỉ đưa xã hội Việt Nam về thời phong kiến, đảng búa liềm còn đưa giống nòi Việt Nam vào thời Bắc thuộc đau thương, tủi nhục và tăm tối.

4. LẤY HẬN THÙ GIAI CẤP ĐÁNH TAN RÃ, LI TÁN KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, ĐẢNG BÚA LIỀM ĐÃ VIẾT NHỮNG TRANG Ô NHỤC NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Sát nách một đất nước khổng lồ ở phương Bắc, một nhà nước xâm lược mà lịch sử mấy ngàn năm tồn tại chỉ là liên tiếp những cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính lân bang và đất nước Việt Nam bé nhỏ, dân tôc Việt Nam hiền hòa luôn là nạn nhân của những cuộc chiến tranh xâm lược thảm khốc từ phương Bắc. Bí quyết duy nhất để dân tộc Việt Nam bé nhỏ vượt qua những cuộc chiến tranh xâm lược khốc liệt để tồn tại đến hôm nay là nhờ nền văn hóa Việt Nam đã kết dính dân tộc Việt Nam thành khối yêu thương đùm bọc, đoàn kết giống nòi giữ nước.

Ngàn năm Bắc thuộc, dù tàn bạo chém giết, dù quyết liệt đồng hóa nhưng quân Hán, quân Tống, quân Minh, quân Thanh xâm lược không hủy diệt được văn hóa làng xã tạo nên tâm hồn người Việt, là chất keo gắn kết khối cộng đồng người Việt, tạo nên sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt. Lấy giai cấp thống trị dân tộc, dùng người Việt mang hồn lạc loài cộng sản đấu tố, bắn giết người Việt không cộng sản, chỉ mấy chục năm cầm quyền, đảng búa liềm đã đánh phá, li tán tan tác khối đoàn kết dân tộc Việt Nam.

Văn hóa Việt Nam là tiếng Việt được người dân sáng tạo, trau chuốt lên, là câu ca dao “Cô kia tát nước bên đàng / Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”, là những tài hoa trong dân gian đã sáng tao ra cả nền nghệ thuật đồ sộ, phong phú và độc đáo Việt Nam. Văn hóa Việt Nam hội tụ, kết tinh lại đã tạo nên tầng lớp tinh hoa của đất nước thời nào cũng có.

Tháng chín, năm 1930 mới bảy tháng tuổi, đảng búa liềm Việt Nam đã tắm máu người Việt trong cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh “đào tận gốc trốc tận rễ” tầng lớp tinh hoa, Trí, Phú, Địa, Hào ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Cải cách ruộng đất 1953 – 1955 không phải chỉ tắm máu tầng lớp tinh hoa ở làng quê Bắc Bộ mà còn hủy diệt cả nền văn hóa làng xã ở chiếc nôi của nền văn minh sông Hồng. Rồi cải tạo tư sản, rồi tù đày trí thức trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm đều là những đòn chí tử đánh vào tầng lớp tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Và đòn đánh vào khối đoàn kết dân tộc Việt Nam nặng nề, rộng lớn và đẫm máu nhất là chia đôi đất nước Việt Nam thành hai trận tuyến, chia đôi khối đoàn kết dân tộc Việt Nam thành hai phe đối kháng thù địch, bắn giết nhau suốt 20 năm trời từ 1955 đến 1975.

Một dân tộc nhỏ bé phải đùm bọc, thương yêu nhau để giữ nước thì đảng búa liềm lại mang hận thù giai cấp chia đôi dân tộc thành hai chiến tuyến giết nhau. Đúng vào thời điểm cuộc nội chiến Nam Bắc lên tới đỉnh điểm, một mất một còn, là thời điểm kẻ thù truyền kiếp, nhà nước phương Bắc xâm lược cất quân đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của tổ tiên người Việt

Sau cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn hàng triệu người không chấp nhận hồn lạc loài cộng sản lại bị đảng búa liềm tù đày mỏi mòn không án, không xét xử, khoét sâu thêm sự hận thù, li tán dân tộc.

Trong xã hội loài người, khác biệt nhận thức, khác biệt trình độ tiến hóa, khác biệt lí tưởng thẩm mĩ, khác biệt tư tưởng là tất yếu. Nhưng với nhà nước búa liềm, công an, tòa án, nhà tù là ngôn ngữ đối thoại của nhà nước với những người dân không chấp nhận hồn lạc loài cộng sản, những người bộc lộ khác biệt chính kiến với nhà nước cộng sản.

Chủ nghĩa cộng sản đã gây tội ác lớn nhất, khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, đã bị quốc hội của văn minh châu Âu ra nghị quyết lên án, đã bị loại bỏ khỏi đời sống chính trị thế giới. Sự thật hiển nhiên như vậy, chỉ những kẻ nhân cách thấp kém, đầu óc tối tăm mới cố bám víu vào tội ác cộng sản để mưu lợi riêng. Nhà nước búa liềm Việt Nam hiện nay là nhà nước của những người như vậy. Yếu kém, bàn bạo, mất lòng dân, nhà nước của một nhóm người đứng đầu đảng búa liềm đang triệt để chia rẽ li tán tan tác dân tộc Việt Nam để dễ bề cai trị. Dựa vào sức mạnh của đảng búa liềm Đại Hán để duy trì quyền cai trị vĩnh viễn, đảng búa liềm Việt Nam đang đưa dân tộc Việt Nam vào tăm tối nô lệ Bắc thuộc.

5. COI ĐẤT NƯỚC VIẾT NAM NHƯ TÀI SẢN RIÊNG CỦA NHÓM LÃNH ĐẠO, ĐẢNG BÚA LIỀM CHỈ LÀ LỰC LƯỢNG CHIẾM ĐÓNG LÃNH THỔ VIỆT NAM,
Với ý thức hệ giai cấp, lấy giai cấp thống trị dân tộc, đảng búa liềm đã thực sự là lực lượng chiếm đóng lãnh thổ Việt Nam, cướp đoạt giang sơn gấm vóc của dân tộc Việt Nam. Cướp được chính quyền nhà nước trong tay, họ liên tiếp viết Hiến pháp và hối hả làm luật để hợp pháp hóa việc cướp quyền dân và biến giang sơn gấm vóc của tổ tiên người Việt thành tài sản riêng của nhóm người đứng đầu tổ chức đảng. Từ đó tổ chức đảng mặc sức mang đất thiêng của tổ tiên ra cống nạp, đổi chác cho vương triều búa liềm Đại Hán đàn anh và quan chức đảng thì tha hồ vơ vét, cướp đoạt đất đai của dân, tài nguyên của nước.

Đất nước phần mất đứt cho nước ngoài, phần còn lại thì bị băm nát, tan hoang bởi những nhóm lợi ích búa liềm, bởi Formosa, bởi Bausite Tây Nguyên. Đất nước quặn đau những vết chém như ở đường sắt Cát Linh – Hà Đông, lở loét những vết thương như ở nhiệt điện Vĩnh Tân, Bình Thuận, như ở nhà máy đạm Ninh Bình . . . Người dân mất nhà cửa ruộng vườn, mất chốn dung thân, mất nguồn sinh sống, bơ vơ lưu vong ngay trên quê hương mình từ đời cha sang đời con, từ thế hệ ông bà sang thế hệ cháu chắt.

Người dân Việt Nam hết thế hệ này đến thế hệ khác đổ mồ hôi biến bãi hoang, sình lầy thành đồng ruộng màu mỡ, hết thế hệ này đến thế hệ khác đổ máu giữ gìn dải đất Việt Nam yêu thương. Đó là những người chủ đích thực của đất nước, của lịch sử Việt Nam. Với chuyên chính vô sản, đảng búa liềm cầm quyền đã dùng bạo lực sắt máu công an, tòa án, nhà tù cai trị, nô dịch người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam không còn tư cách chủ thể đất nước, không còn được coi là con người, mà chỉ là kho máu để đảng búa liềm say mê làm cách mạng và hối hả làm chiến tranh giành và mở rộng quyền cai trị, là kho sức người để đảng bóc lột và kho công cụ để đảng sử dụng.

Đảng búa liềm từ nhóm năm, bảy người bơ vơ lang bạt lén lút tụ tập ở bãi cỏ vắng nơi xứ người thành lập đảng năm 1930 đến bốn triệu đảng viên ngạo nghễ cầm quyền hôm nay đều là người Việt Nam. Nhưng là những người Việt Nam mang hồn lạc loài cộng sản, mang dòng máu sôi sục hận thù giai cấp. Hồn lạc loài cộng sản và máu hận thù giai cấp đã làm cho họ trở thành giống người khác máu tanh lòng với người dân Việt Nam, coi người dân Việt Nam không chấp nhận cộng sản lạc loài là “thế lực thù địch”, là đối tượng để bạo lực chuyên chính vô sản đàn áp, tiêu diệt. Tội ác đảng búa liềm lạc loài để lại cho đất nước, cho giống nòi Việt Nam còn ghê tởm và khủng khiếp hơn tội ác của tất cả mọi loại giặc ngoại xâm đã từng dày xéo đất nước Việt Nam.